EPS bình quân gia quyền: vì sao không lấy số cuối kỳ

Một câu hỏi thường gặp khi tính EPS là mẫu số lấy theo số cổ phiếu nào. Chuẩn mực kế toán yêu cầu dùng số bình quân gia quyền.

EPS và mẫu số bình quân

EPS (lãi cơ bản trên cổ phiếu) bằng lợi nhuận sau thuế phân bổ cho cổ đông sở hữu cổ phiếu phổ thông chia cho số cổ phiếu phổ thông đang lưu hành bình quân trong kỳ. Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 30 (VAS 30) quy định mẫu số là số bình quân gia quyền theo thời gian lưu hành, không lấy số cổ phiếu tại ngày cuối kỳ.

🔗 Xem thêm: EPS là gì? Công thức tính và ví dụ bằng số

Lợi nhuận cả năm hình thành dần theo thời gian, trong khi cổ phiếu phát hành thêm giữa năm chỉ có mặt trong phần thời gian còn lại. Nếu chia lợi nhuận cả năm cho số cổ phiếu cuối kỳ, các cổ phiếu mới bị tính như thể đã lưu hành từ ngày đầu năm.

eps là gì - EPS và mẫu số bình quânMinh hoạ: eps là gì

Cách tính số cổ phiếu bình quân gia quyền

Mỗi lượng cổ phiếu được nhân với tỷ lệ thời gian lưu hành rồi cộng lại. Cổ phiếu có mặt cả năm được tính đủ, cổ phiếu phát hành ngày 01/07 chỉ được tính theo trọng số 6/12. Ví dụ giả định:

🔗 Xem thêm: EBIT là gì? Hai cách tính và một ví dụ bằng số cụ thể

  • Đầu năm: 40 triệu cổ phiếu, lưu hành cả năm.
  • Ngày 01/07: phát hành thêm 10 triệu cổ phiếu, lưu hành nửa cuối năm.
  • Cuối năm: 50 triệu cổ phiếu.

Số cổ phiếu bình quân = 40 triệu + 10 triệu x 6/12 = 45 triệu cổ phiếu.

Chênh lệch khi dùng số cuối kỳ

eps là gì - Chênh lệch khi dùng số cuối kỳMinh hoạ: eps là gì

Giả định lợi nhuận phân bổ cho cổ đông phổ thông trong năm là 120 tỷ đồng. Dùng mẫu số bình quân 45 triệu cổ phiếu, EPS xấp xỉ 2.667 đồng/cổ phiếu. Nếu lấy số cuối kỳ 50 triệu cổ phiếu, EPS chỉ còn 2.400 đồng, thấp hơn thực tế vì 10 triệu cổ phiếu mới bị tính đủ một năm dù chỉ lưu hành nửa năm.

Một trường hợp liên quan khác: khi doanh nghiệp mua cổ phiếu quỹ, số cổ phiếu lưu hành giảm và EPS có thể tăng dù lợi nhuận không đổi.

Sai lệch ở mẫu số còn lan sang các chỉ số dùng EPS làm đầu vào, chẳng hạn tỷ lệ giữa giá và lợi nhuận mỗi cổ phiếu.

Đối chiếu với số công bố

Chỉ tiêu lãi cơ bản trên cổ phiếu mà doanh nghiệp công bố trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh đã dùng số bình quân. Nếu tự tính từ số cổ phiếu cuối kỳ, kết quả có thể lệch với số công bố trong những năm có phát hành thêm hoặc mua cổ phiếu quỹ. Phần nền tảng về công thức tính có trong bài kiến thức về chỉ số EPS.

Kết luận

eps là gì - Kết luậnMinh hoạ: eps là gì

EPS dùng mẫu số bình quân gia quyền để khớp số cổ phiếu với thời gian tạo ra lợi nhuận. Trong ví dụ, chênh lệch giữa 2.667 đồng và 2.400 đồng cho thấy chọn sai mẫu số làm EPS thấp hơn thực tế. Nội dung mang tính tham khảo, không phải khuyến nghị đầu tư.

#eps #ketoan #cophieu #baocaotaichinh

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Chi phí thật của giao dịch ký quỹ mà ít người tính tới

Bốn rủi ro của trái phiếu mà lãi suất chào bán không nói ra

Bullish là gì? Phân biệt với bearish và với bull market